Chủ Nhật, 19 tháng 7, 2026

TTCK Mỹ có thể giảm điểm trong tuần tới, áp lực đè nén sẽ tiếp diễn ở TTCK Việt Nam, nhưng đáy cũng đang ở gần!

 

NHU CẦU TÍN DỤNG HẠ NHIỆT, NHƯNG LÃI SUẤT PHẢI CHỜ TỚI QUÝ 4 MỚI HẠ NHIỆT

 Trong trung tuần tháng Bảy, từ ngày 13.7 đến ngày 17.7, Ngân hàng Nhà nước duy trì trạng thái "hút  ròng" trên thị trường mở (OMO).Tổng lượng lưu hành giảm chỉ còn hơn 186 ngàn tỉ đồng, từ mức 245 ngàn tỉ đồng tính đến ngày 30.6. Trong khi đó, lãi suất liên ngân hàng đã hạ nhiệt, đặc biệt, kỳ hạn qua đêm duy trì mức 4.16%. Việc lượng tiền bơm hỗ trợ qua kênh thị trường mở (OMO) giảm mạnh do tăng trưởng tín dụng đã hạ nhiệt sau thời điểm bán niên. Thêm vào đó, nhiều nhà băng đã vượt ngưỡng tỉ lệ thanh khoản LDR trên 85%. "Tiền đang dư trên thị trường 1 (dân cư và doanh nghiệp) được đẩy xuống thị trường 2 (liên ngân hàng)"- Theo Bloomberg Businessweek.


Thống đốc NHNN nói thẳng: 'Thiếu vốn, lãi suất buộc phải tăng" Phát biểu tại Hội nghị Thường trực Chính phủ với cộng đồng doanh nghiệp sáng 18/7, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Phạm Đức Ấn cho rằng áp lực huy động vốn đang khiến việc điều hành lãi suất gặp nhiều khó khăn. Theo ông, khi nền kinh tế thiếu vốn, lãi suất huy động buộc phải tăng, kéo theo lãi suất cho vay và tạo sức ép lên hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.


 

Tôi không rõ ý của Thống Đốc muốn đá quả bóng trách nhiệm về việc lãi suất tăng về phía ai hay đây là một "sự thật hiển nhiên" nằm ngoài khả năng quản trị của SBV nên "chắc là không phải lỗi của SBV". Liệu SBV có phải chịu trách nhiệm về việc lãi suất đang tăng lên hay không?


Sáng ra theo lẽ thường sẽ đi tập thể dục, nhưng tự nhiên lướt điện thoại ngang, rồi thấy SBV nói chuyện kiểu "tui vô can" thế này thì tựa nhiên lại muốn "ngứa miệng" bình luận làm một bài dài hack não anh em buổi sáng!"

Không bao giờ được phép rút ra bất kỳ kết luận nào từ việc lãi suất tăng hay giảm, trừ khi bạn biết tại sao lãi suất lại thay đổi.”

Lãi suất thả nổi cho các dự án bất động sản đã tăng từ mức 8-9% lên 14-15% (theo ghi nhận của một số tờ báo). Vậy tại sao lãi suất này lại tăng: là do cầu tiền tăng hay cung tiền giảm? Do hiệu ứng thanh khoản hay do hiệu ứng thu nhập? Do vòng quay tiền? Mối quan hệ của dòng chảy vốn quốc tế?... chúng ta cùng nhau bóc tách từng vấn đề.


Do nhu cầu về vốn? Năm 2025, tăng trưởng tín dụng của cả hệ thống là 19%, trong đó tín dụng bất động sản tăng nhanh hơn là 25%. Có sự gia tăng về cầu tiền, điều mà ai cũng dễ nhận thấy khi "chúng ta tập trung vào tăng trưởng kinh tế, thúc đẩy tín dụng để đạt mục tiêu đó".


Tuy nhiên, khó có thể nói cầu tiền quá mạnh mẽ vào lúc này sau khi tiền của người dân đã mắc kẹt vào bất động sản vào năm 2022 và thị trường BĐS mới chớm hồi phục. Giá bất động sản thì cao, nhưng thực tế thanh khoản không lớn.


Còn ở phía cung tiền thì sao? Chúng ta nhìn lại lịch sử một chút:
  • Sự thực, năm 2020 tăng trưởng cung tiền M2 của Việt Nam đạt khoảng 14.5%, đây là mức cung tiền chậm lại so với vùng khá cao 14-20% của giai đoạn 2016-2020.
  • Năm 2021 tăng trưởng chậm lại ở mức 10.7%.
  • Năm 2022 giảm mạnh xuống chỉ còn 6.2% – mức thấp nhất trong nhiều năm do ảnh hưởng thắt chặt thanh khoản giai đoạn giữa năm.
Chúng ta ngắt ra từng đoạn để giải thích. Việc cung tiền M2 năm 2021 tăng chậm (10.7%) có thể là do SBV đã lựa chọn giải pháp không cần bơm thêm tiền vì chắc chắn có ai đó đã sẽ mang thêm tiền vào hệ thống. Hãy nhớ năm 2020-2021, Mỹ bơm tiền ồ ạt, lãi suất =0% và chắc có lẽ ai đó cũng làm nghiệp vụ Yên Carry trade, trong khi lãi suất tiền gửi ở Việt Nam cũng ở tầm 5%-6%, thì tiền quốc tế sẽ đổ vào Việt Nam.

Lúc đó, SBV không cần bơm tiền làm gì nữa, tiền Mỹ sẽ chảy vào Việt Nam. Đương nhiên rồi, dự trữ ngoại hối của Việt Nam trong năm 2021 đã ghi nhận mức tăng kỷ lục, đạt khoảng 113.7 tỷ USD, tăng mạnh so với các năm trước đó. (Một ghi chú nhỏ là khối ngoại bán ròng 2.7 tỷ đôla trên TTCK Việt Nam năm đó chẳng thấm tháp vào đâu so với lượng tiền chảy vào). 

Cho nên thanh khoản trong hệ thống ngân hàng Việt Nam dư thừa, thị trường chứng khoán bùng nổ, rồi các cơn sốt đất! Đồ thị dưới cho thấy tăng trưởng cung tiền M2 chậm lại năm 2021 nhưng VN-Index vẫn bùng nổ, trong khi cung tiền M2 tăng mạnh năm 2011-2012 nhưng chứng khoán không bùng nổ. (Thanh khoảng không phải là yếu tố duy nhất tác động đến VN-index, nó còn liên quan đến chu kỳ kinh doanh)



Việc cung tiền M2 xuống còn 6.2% trong năm 2026 khi nền kinh tế rơi vào khủng hoảng và giảm phát, xuất phát từ khủng hoảng hệ thống trái phiếu doanh nghiệp, ngân hàng. Vòng quay tiền chậm lại. khi tiền của người dân mắc kẹt trong bất động sản, trái phiếu 

Năm 2023-2024, tăng trưởng cung tiền M2 là 12-13% khi SBV cố gắng hạ lãi suất điều hành, mở rộng chính sách tiền tệ, chính phủ thực hiện đầu tư công. Thế nhưng nhu cầu vốn thấp do nền kinh tế yếu đã khiến tăng trưởng tín dụng năm 2023 chỉ là 13.7%, thấp hơn mục tiêu 14%-15%. Năm 2024 mới đạt được mục tiêu tăng trưởng tín dụng.


Tăng trưởng cung tiền (M2) của Việt Nam có sự bứt phá mạnh mẽ trong năm 2025 với mức tăng vượt 10%, hỗ trợ đà tăng trưởng kinh tế đạt 8.02%. Bước sang năm 2026, cung tiền ghi nhận sự sụt giảm và tăng trưởng chậm lại, có thể dao động quanh mức 5.86% - 6.42% so với cùng kỳ.

Nhìn lại cả lịch sử mấy năm qua, cung tiền M2 được SBV bơm ra thận trọng để tránh gây ra lạm phát, vì họ đã quan sát sự chuyển dịch của dòng vốn quốc tế (đổ vào Việt Nam năm 2021), và chỉ đẩy mạnh cung tiền trở lại từ 2023-2025 để phục hồi nền kinh tế.


Nhưng có vẻ như việc cung tiền M2 sụt giảm từ tháng 9.2025 đang gây ra vấn đề cho cả nền kinh tế và thị trường chứng khoán. Nếu không tính đến sự neo giá của họ Vin đối với chỉ số Vn-Index thì thực ra, TTCK Việt Nam đã điều chỉnh gần 1 năm nay rồi.


Quay trở lại với câu chuyện lãi suất tăng. Nếu như cầu tiền tăng nhẹ, tăng trưởng cung tiền M2 sụt giảm, thì chuyện lãi suất tăng chỉ có thể là do người điều hành đã quá lo sợ câu chuyện lạm phát. Và đến nay GDP Việt Nam nửa đầu năm 2026 vẫn đang tăng trưởng khá tốt 8.18% là do sự sụt giảm cung tiền này chưa kịp tác động lên, hoặc có thể là chưa kịp ghi nhận. Thực tế, thì con số GDP được ghi nhận theo từng quý (3 tháng) trong khi cung tiền M2 đang theo dõi theo tháng.


Nếu SBV không cung cấp đủ cung tiền M2 cho mục tiêu tăng trưởng kinh tế 8% (dự báo của các nhà kinh tế)-10% (mục tiêu của chính phủ) thì chính sách tiền tệ của họ là thắt chặt.

Tôi trích dẫn một chút học thuật trong cuốn sách Ảo Giác Tiền Tệ: Có một tác động cuối cùng cần xem xét — hiệu ứng thu nhập. Chúng ta đã thấy rằng do tiền lương và giá cả mang tính cứng nhắc, sự thay đổi trong cung tiền sẽ có tác động đến GDP thực — tức là thu nhập thực. Bởi vì nhu cầu tín dụng nhạy cảm với chu kỳ kinh doanh, nên chính sách tiền tệ gây ra bùng nổ hoặc suy thoái có thể tác động mạnh đến lãi suất, ngay cả khi kỳ vọng lạm phát vẫn duy trì quanh mức 4.5%.


 


Mối quan hệ giữa lạm phát và lãi suất phản ánh qua hiệu ứng Fisher, hiệu ứng thu nhập, hiệu ứng thanh khoản và hiệu ứng mức giá. Khi lạm phát cao và biến động mạnh (như giai đoạn trước năm 2011), hiệu ứng Fisher chiếm ưu thế (tăng cung tiền sẽ dẫn đến kỳ vọng lạm phát tăng và do đó người dân đòi hỏi mức lãi suấtt cao hơn); còn khi lạm phát thấp và ổn định (như từ năm 2022 đến nay), hiệu ứng thu nhập lại quan trọng nhất.



Thực sự, căn bệnh chung là mọi người quá chú ý đến hiệu ứng thanh khoản, trong khi đánh giá thấp hiệu ứng thu nhập trong dài hạn, cũng như chưa hiểu ra bối cảnh kinh tế thực sự hiện nay là tổng cầu thấp, và áp lực giảm phát đang hiện hữu.


Có một chút rắc rồi vừa qua khi cuộc chiến Mỹ-Iran vào tháng 3 đã khiến giá dầu tăng vọt, khiến CPI tăng mạnh. Nhưng đây là cuộc khủng hoảng ngắn hạn bởi gián đoạn logistic, chứ không phải do phía cầu.

Giả sử SBV cũng đi theo nhiệm vụ kép của Fed, kết hợp giữa lạm phát thấp và việc làm cao, tăng trưởng GDP danh nghĩa (NGDP) có thể là chỉ báo tốt nhất về lập trường chính sách tiền tệ. Khi tăng trưởng NGDP quá cao, SBV thường vượt quá mục tiêu của mình, và chính sách tiền tệ có thể được coi là quá nới lỏng. Nếu tăng trưởng NGDP quá thấp để đáp ứng nhiệm vụ kép, thì chính sách có thể được xem là quá thắt chặt. Do đó, có lẽ không có ý nghĩa gì khi nói về tiền tệ nới lỏng hay thắt chặt theo nghĩa tuyệt đối, mà chỉ nên xét trong mối liên hệ với mục tiêu của ngân hàng trung ương. Tiền có quá nới lỏng hay quá thắt chặt để đạt mục tiêu hay không? Đó mới là câu hỏi mà chúng ta cần tập trung.

Ở một góc nhìn khác, sự tăng lên của lãi suất có thể do vòng quay của tiền đang chậm lại sau một loạt tác động từ tài khóa và tiền tệ. Thuế suất và lãi suất đại diện cho động lực tích trữ tiền mặt.
  • Lãi suất cao hơn nghĩa là cầu tiền mặt thấp hơn.
  • Lãi suất thấp hơn nghĩa là cầu tiền mặt cao hơn.
Thuế cao và lãi suất thấp, thường dẫn đến số dư tiền mặt rất lớn. Năm 2025, vấn đề đánh thuế đối các hộ kinh doanh có doanh thu 500 triệu, rồi vấn đề hóa đơn đầu vào, kết  hợp mức lãi suất còn thấp đã khiến nhu cầu giao dịch bằng tiền mặt tăng lên. Tỷ lệ tiền mặt/M2 tăng từ 9% lên 12% vào năm 2025

Cũng có thể tiền trong thị trường vẫn nhiều nhưng vòng quay thì chậm.  Khi tiền nằm nhiều hơn trong tiết kiệm, hoặc dân thích cầm tiền mặt, cũng như bị chuyển sang đầu tư vào vàng, ngoại tệ, bitcoin (năm 2025 đều tăng mạnh) và các giao dịch ngoài kênh ngân hàng, trong khi doanh nghiệp vẫn thận trọng với mở rộng sản xuất, kinh doan, thì vòng quay tiền chậm lại.
Chúng ta đã biết đến phương trình cân bằng của Thuyết Số Lượng Tiền Tệ là M x V= Px Y. Một sự sụt giảm trong vòng quay tiền có thể làm giảm đến chi tiêu (Px Y), tức đe dọa làm giảm chi tiêu của nền kinh tế.

Nó cũng là vấn đề trong dài hạn. Nếu SBV bơm tiền ra để hỗ trợ cho nền kinh tế thì nó sẽ làm tăng lạm phát khi cầu tiền giảm. Điều này giống như lạm phát năm 2022 ở Mỹ và Việt Nam, sau khi người dân trở lại sau giãn cách covid đã tăng chi tiêu (giảm cầu tiền) thì lượng cung tiền dư thừa đã hóa thành lạm phát!

Do đó, chính phủ Việt Nam đang có những thay đổi trong chính sách thuế khóa và mạnh tay đối với thị trường khác. Liên tục các động thái từ đầu năm trong việc làm sạch thị trường vàng và kim cương, hay thậm chí cả thị trường tiền số.

Tại Việt Nam, tiêu điểm tuần qua là việc nhà nước mạnh tay xử lý vi phạm trên thị trường kim loại quý. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Thanh Hóa vừa khởi tố thêm 4 bị can trong chuyên án buôn lậu kim cương xuyên quốc gia, bao gồm chủ các tiệm vàng Kim Lý, Ngọc Tâm, Ngọc Châu Âu và một nhân viên giám định thuộc PNJ-LAP.

Đường dây này hoạt động tinh vi thông qua mạng xã hội để đặt mua kim cương giá rẻ từ các đối tượng người Ấn Độ, sau đó vận chuyển trái phép về Việt Nam và tiêu thụ với giá thấp hơn 1/3 thị trường.

Sự việc này, cùng với những cáo buộc về việc hàng hóa không khớp với mã số định danh quốc tế bắt nguồn từ các buổi livestream của bà Nguyễn Phương Hằng, đã gây ra cuộc khủng hoảng niềm tin trầm trọng trên thị trường kim cương Việt Nam.

Hàng loạt cửa hàng trang sức lớn phải tạm đóng cửa hoặc ngừng thu mua do đứt gãy dòng tiền và áp lực thanh khoản từ khách hàng.

Theo các chuyên gia, khác với vàng có tính thanh khoản cao, kim cương là thị trường có độ bất đối xứng thông tin lớn, thường bị đội giá cao so với giá trị thực và gần như không có tính thanh khoản linh hoạt, khiến nhà đầu tư đối mặt với rủi ro rất lớn

Việc tấn công xử lý vi phạm thị trường vàng sẽ góp phần giúp người dân giảm nhu cầu đầu tư vào các kênh khác, và quay lại gửi tiền ở hệ thống ngân hàng.

------------
Quay trở lại thị trường tiền tệ hiện tại. Tín dụng hạ nhiệt sau mùa bán niên, ngân hàng Nhà nước duy trì trạng thái "hút ròng" trên thị trường mở: Áp lực lạm phát đã có dấu hiệu hạ nhiệt trong tháng 6 với chỉ số giá tiêu dùng (CPI) giảm 0.39% so với tháng trước, giúp CPI cả nước tăng 4.69% so với cùng kỳ. 

Vietcap và VNDirect ghi nhận lãi suất liên ngân hàng hạ nhiệt đáng kể trong tháng 6 sau những biến động cục bộ cuối quý. 

Theo Vietcap, lãi suất qua đêm giảm trong tháng 6 nhờ ba yếu tố chính: (1) nhu cầu thanh khoản của các ngân hàng giảm, thể hiện qua việc NHNN hút ròng 86,900 tỷ đồng qua OMO; (2) NHNN hỗ trợ thanh khoản linh hoạt qua các hợp đồng hoán đổi ngoại tệ-swap (quy mô khoảng 3 tỷ USD); và (3) lãi suất huy động tại một số ngân hàng giảm giúp điều kiện vốn thuận lợi hơn.

  • Hoạt động OMO: Trong tháng 6, NHNN bơm 214 nghìn tỷ đồng và hút về 300,900 tỷ đồng qua đáo hạn, dẫn đến hút ròng 86,900 tỷ đồng.

  • Triển vọng tháng 7: Thanh khoản kỳ vọng tiếp tục cải thiện nhờ các công cụ điều tiết của NHNN. Đặc biệt, từ ngày 1/7, việc nâng tỷ lệ nguồn vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn từ 30% lên 40% sẽ giúp mở rộng dư địa tín dụng và giảm áp lực cho hệ thống



Nhìn chung, Ngân hàng Nhà nước vẫn duy trì trạng thái điều hành linh hoạt, sử dụng kết hợp các công cụ như OMO và hoán đổi ngoại tệ để ổn định thanh khoản. Tuy nhiên, chênh lệch giữa tăng trưởng tín dụng và huy động vốn vẫn là áp lực cấu trúc đối với hệ thống ngân hàng.

Tính đến cuối tháng 6/2026, tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống đạt khoảng 7.41% - 7.73% so với cuối năm 2025. Mặc dù Ngân hàng Nhà nước đã phát đi tín hiệu nới lỏng dư địa tín dụng, chẳng hạn như nâng trần tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn từ 30% lên 40%, áp lực huy động vốn tại các ngân hàng thương mại vẫn còn cao do nhu cầu cạnh tranh lãi suất. 

HSC và VNDirect kỳ vọng mặt bằng lãi suất sẽ hạ nhiệt rõ nét hơn từ quý 4 khi thanh khoản hệ thống được cải thiện nhờ đẩy mạnh giải ngân đầu tư công.



Theo quan điểm của Vietcap và VNDirect, lợi suất trái phiếu chính phủ có thể tiếp tục đối mặt với áp lực tăng trong quý 3 do tiến độ phát hành cả năm vẫn còn cách xa mục tiêu, cùng với nhu cầu vốn lớn phục vụ giải ngân đầu tư công trong nửa cuối năm 2026.


Nền kinh tế Việt Nam trong 6 tháng đầu năm 2026 đã ghi nhận sự tăng trưởng vượt kỳ vọng với GDP tăng 8.18% so với cùng kỳ. Trong đó, khu vực công nghiệp - xây dựng và dịch vụ đóng vai trò là động lực chính. HSC đã nâng dự báo tăng trưởng GDP cả năm 2026 lên mức 8.5% so với mục tiêu 7.6% trước đó, mặc dù công nhận thách thức lớn để đạt được mục tiêu tăng trưởng hai chữ số của Chính phủ trong nửa cuối năm. 

VNDirect cũng khẳng định nền kinh tế duy trì đà tăng trưởng tích cực nhờ ba trụ cột: sản xuất công nghiệp, xuất khẩu và dòng vốn FDI, đồng thời kỳ vọng đà tăng sẽ tiếp tục cải thiện trong nửa cuối năm.

Hoạt động xuất nhập khẩu và FDI: Thương mại quốc tế tiếp tục là điểm sáng của nền kinh tế. Trong 6 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu tăng 21% và nhập khẩu tăng 33.4% so với cùng kỳ. Các mặt hàng chủ lực như máy tính, linh kiện điện tử và máy móc thiết bị đóng góp lớn nhất vào kim ngạch xuất khẩu.

Đối với FDI, Việt Nam ghi nhận sự bùng nổ với vốn đăng ký đạt kỷ lục 34.65 tỷ USD, tăng 61% so với cùng kỳ, khẳng định vị thế hấp dẫn đối với nhà đầu tư nước ngoài. Tuy nhiên, cần lưu ý rủi ro giảm từ khả năng thay đổi các thỏa thuận thuế quan thương mại với Mỹ.

HSC dự báo KNXK và KNNK tăng lần lượt 15.6% và 16.8% so với cùng kỳ trong nửa đầu tháng 7/2026, sau khi tăng lần lượt 20.4% và 36.9% so với cùng kỳ trong 2 tuần cuối tháng 6/2026 (Biểu đồ 2) nhờ hoạt động thương mại tiếp tục ổn định với kim ngạch xuất nhập khẩu máy tính tích cực.


DẠO QUANH TOÀN CẦU

“Giá dầu đang trên đà đạt mức tăng hàng tuần hơn 10% khi căng thẳng Mỹ-Iran leo thang làm dấy lên lo ngại về sự bất ổn lan rộng.”
— Giulia Petroni, “Oil Headed for 10% Weekly Gain on Escalating U.S. –Iran Attacks” (Dầu hướng tới mức tăng 10% hàng tuần do các cuộc tấn công Mỹ-Iran leo thang), The Wall Street Journal, ngày 17 tháng 7 năm 2026.

Các cuộc tấn công mới của Hoa Kỳ vào cơ sở hạ tầng của Iran và các cuộc tấn công của Iran vào các cơ sở của Hoa Kỳ đã làm sống lại nỗi lo ngại rằng lệnh ngừng bắn mong manh và các thỏa thuận mở cửa trở lại xung quanh Eo biển Hormuz đang xấu đi. 

Với dầu thô Brent dao động trên 88 USD và WTI trên 82 USD vào thứ Sáu, những biến động lớn nhất trong tuần một lần nữa bị chi phối bởi sự leo thang trong cuộc xung đột. Các sản phẩm tinh chế thậm chí còn nhạy cảm hơn.

Giá dầu diesel tương lai của Hoa Kỳ đã tăng khoảng 20% kể từ đầu tuần trước, trong khi lượng hàng tồn kho dầu diesel của Hoa Kỳ tiến gần đến mức chưa từng thấy kể từ đầu những năm 2000. Dầu diesel là thành phần gắn liền với chi phí vận tải, nông nghiệp, khai thác mỏ và xây dựng. Do đó, tình trạng thiếu hụt sản phẩm tinh chế kéo dài có thể đảo ngược một phần sự cải thiện gần đây về lạm phát và hạn chế dư địa của Cục Dự trữ Liên bang trong việc nới lỏng chính sách.

Vàng vẫn yếu với mức thấp 3,963 vào thứ Sáu, kiểm định lại đáy ngày 30 tháng 6 là 3,955.40. Sự yếu kém của Vàng trong thời gian leo thang quân sự thoạt nhìn có vẻ phi lý. Tuy nhiên, thị trường coi cuộc xung đột chủ yếu là một cú sốc năng lượng lạm phát có thể giữ lãi suất ở mức cao hơn. Lợi suất thực hoặc danh nghĩa tăng và đồng Đô la mạnh hơn trong một số thời điểm trong tuần đã lấn át nhu cầu trú ẩn an toàn. Bạc đã tạo đáy mới tại 5,500, báo hiệu một trường hợp phân kỳ tăng giá liên thị trường.

Các thị trường chứng khoán Hoa Kỳ đều giảm trong tuần này, với NASDAQ dẫn đầu đợt bán tháo do sự sụt giảm của ngành bán dẫn không còn là sự điều chỉnh cô lập trong một ngành. Nó đã trở thành một sự đánh giá lại toàn cầu về các định giá, chi phí vốn và các giả định về lợi nhuận làm nền tảng cho sự bùng nổ đầu tư vào AI.

Việc phát hành một mô hình mới bởi Moonshot AI của Trung Quốc đã thêm một mối lo ngại khác: rằng các hệ thống ngày càng có khả năng của Trung Quốc có thể làm suy yếu giả định rằng một số ít công ty Hoa Kỳ sẽ chiếm phần lớn lợi nhuận kinh tế từ đầu tư AI. Đây là một sự thay đổi quan trọng trong tâm lý thị trường vì lợi nhuận tốt không còn là đủ. Thị trường đang yêu cầu bằng chứng rằng đầu tư AI sẽ tạo ra lợi nhuận tương xứng với định giá và chi phí vốn.

Các thị trường tập trung nhiều cổ phiếu bán dẫn ở Đài Loan, Nhật Bản và Hàn Quốc đã trải qua những đợt giảm giá mạnh hơn nhiều so với các chỉ số truyền thống của châu Âu. Đài Loan giảm hơn 6% vào thứ Sáu, Nhật Bản giảm khoảng 4%, và chỉ số Nikkei đứng thấp hơn khoảng 12% so với mức đỉnh gần đây.

Các chỉ số châu Âu hoạt động tốt hơn các thị trường tập trung nhiều cổ phiếu công nghệ của châu Á và Hoa Kỳ nhưng vẫn dễ bị tổn thương trước sự kết hợp của chi phí năng lượng nhập khẩu cao hơn, một ECB thận trọng và nhu cầu yếu hơn từ Trung Quốc. Do đó, các thị trường châu Âu cũng vẫn nằm dưới các mức đỉnh cao mọi thời đại.

Chúng ta cũng đã thấy một đợt tăng giá trong lĩnh vực ngũ cốc được thúc đẩy bởi điều kiện thời tiết nóng và khô cùng chi phí đầu vào liên quan đến năng lượng. Mối liên hệ cơ bản quan trọng nhất là sự gia tăng chi phí dầu diesel và phân bón. Giá năng lượng cao kéo dài có thể làm tăng chi phí gieo trồng, thu hoạch, vận chuyển và phân bón ngay cả khi nhu cầu ngũ cốc không tăng tốc. Tất cả những điều này đều giả định rằng chúng ta không gặp phải thiệt hại mùa màng hoặc hạn hán ảnh hưởng đến nguồn cung (điều mà, như đã giải thích trong các báo cáo trước đó, các yếu tố địa tâm đang chỉ ra).

DẤU HIỆU ĐỊA TÂM (GEOCOSMIC) TỪ MMA CYCLES

Trong tuần qua, chúng ta đã có một kỳ Trăng Non tại Cự Giải vào ngày 14 tháng 7. Trong chiêm tinh truyền thống, Cự Giải và Mặt Trăng chủ quản Bạc như một loại hàng hóa. Thật thú vị khi thấy rằng Bạc hiện đang tạo đáy mới trong năm, kèm theo sự phân kỳ tăng giá của chỉ báo dao động. Đây là các chỉ báo kỹ thuật cho một mức đáy.

Tuy nhiên, chúng ta phải cẩn thận vì Thủy Tinh vẫn đang nghịch hành cho đến tuần tới (ngày 23 tháng 7), và chúng ta nhận thấy rằng các tín hiệu kỹ thuật cung cấp các chỉ báo sai lệch khi "kẻ lừa đảo (Thủy Tinh) đang hoạt động.

Chúng ta cũng hiện đang ở trong ngày đảo chiều trọng yếu (CRD) ba sao từ ngày 17–20 tháng 7, một trong những chỉ báo hàng đầu của chúng ta về sự đảo chiều trên thị trường. Trong tuần tới, chúng ta có một số góc chiếu hành tinh vòng ngoài quan trọng hình thành trong sai số hẹp. 





Nó bắt đầu với góc tam hợp Thiên Vương Tinh–Diêm Vương Tinh vào ngày 18 tháng 7, theo sau là góc tam hợp Mộc Tinh-Hải Vương Tinh và góc đối đỉnh Mộc Tinh–Diêm Vương Tinh vào ngày 20 tháng 7. 

Mặt Trời sau đó sẽ tiến vào cung Sư Tử vào ngày 22 tháng 7, trước khi Thủy Tinh chuyển sang trạng thái thuận hành vào ngày 23 tháng 7. Chúng ta sau đó sẽ kết thúc tuần với Thổ Tinh chuyển sang trạng thái nghịch hành vào ngày 26 tháng 7. Do đó, đây là một ngày đảo chiều trọng yếu (CRD) mạnh mẽ kết hợp vô số các dấu hiệu địa tâm đầy tiềm năng.

Đây là cách tôi mô tả hai tuần tiếp theo, từ Trăng Non ngày 14 tháng 7 cho đến Trăng Tròn ngày 29 tháng 7, khi viết các báo cáo dịch chuyển theo mùa trong Forecast năm 2026, viết vào mùa thu năm ngoái: “Sau góc giao hội Thổ Tinh–Hải Vương Tinh của tháng 2, đây có khả năng là giai đoạn quan trọng tiếp theo của năm. Chúng ta kỳ vọng sẽ thấy những sự đảo chiều lớn trên các thị trường tài chính và những quyết định quan trọng liên quan đến các vấn đề toàn cầu trong thời gian này.”

Để nhắc lại nơi sự kiện này có thể diễn ra, tôi đã trình bày biểu đồ bản đồ chiêm tinh cho biểu đồ dịch chuyển mùa Hè, trong đó Mặt Trời chiếm ưu thế trên Thiên Đỉnh (MC) phía trên Iran và Eo biển Hormuz.

Dưới góc nhìn sóng Elliott của Henrik Zeberg, khả năng SP500 sắp điều chỉnh ngắn hạn, trước khi trở lạ sóng tăng (5)



CÁC SUY NGHĨ VÀ Ý KIẾN DÀI HẠN

Trong hai tuần qua, chúng ta đã chịu ảnh hưởng của góc giao hội Hỏa Tinh–Thiên Vương Tinh diễn ra vào ngày 4 tháng 7. Trong Forecast năm 2026, đây là những gì tôi đã viết liên quan đến ký hiệu này trong biểu đồ dịch chuyển theo mùa: Ngay phía trên đường chân trời, Hỏa Tinh đang tiến tới góc giao hội với Thiên Vương Tinh ở những độ cuối của nhà thứ mười hai và trong phạm vi sai số của điểm mọc (ascendant). 

Đây là một dấu hiệu đáng lo ngại, gợi ý về những kẻ thù ẩn giấu, các cuộc khủng hoảng bất ngờ, các cuộc tấn công gây gián đoạn, phá hoại hoặc chiến tranh mạng. 

Hỏa Tinh, với tư cách là chủ quản nhà thứ mười hai, là dấu hiệu của những kẻ thù ẩn giấu và các hoạt động bí mật nhằm gây rối. 

Thiên Vương Tinh, với tư cách là chủ quản nhà thứ mười, chỉ ra những cú sốc bất ngờ đối với giới lãnh đạo hoặc tổng thống. 

Mẫu hình này có thể biểu hiện thành một âm mưu ám sát, sự cố khủng bố, hoảng loạn về sức khỏe, sai lầm trong tính toán quân sự hoặc khủng hoảng tình báo. Nó tượng trưng cho một cú sốc gây bất ổn làm suy yếu người lãnh đạo quốc gia vào cuối mùa hè năm 2026.

Góc giao hội Hỏa Tinh–Thiên Vương Tinh nằm ở 3° Song Tử, nằm trong phạm vi sai số của góc giao hội với Mặt Trăng bản mệnh (6° Song Tử) của Ukraine (biểu đồ năm 1918), vì vậy sự kiện này có thể có tác động đến người dân Ukraine. 

Đối với các nhà lãnh đạo toàn cầu, góc giao hội này cũng nằm trong phạm vi sai số của góc giao hội với Mặt Trăng bản mệnh của Vladimir Putin (2° Song Tử) và Hỏa Tinh bản mệnh của Ursula von der Leyen (chủ tịch Ủy ban châu Âu)….

Trong khí tượng chiêm tinh, Thiên Vương Tinh và các hành tinh áp suất cao khác gợi ý về khí hậu khô hạn. Góc giao hội Hỏa Tinh sẽ mang lại cái nóng cực độ thuận lợi cho hạn hán trong một mùa hè nóng bất thường.

Trong tuần qua, cuộc xung đột Mỹ-Iran đã bùng phát trở lại, khiến giá Dầu thô tăng vọt trở lại. Cháy rừng đang bùng phát ngoài tầm kiểm soát trên khắp Bắc Mỹ và châu Âu.  Ngày 9 tháng 7 – Israel được báo cáo đã chuyển thông tin tình báo cho Hoa Kỳ cho thấy Iran đang cân nhắc một kế hoạch mới nhằm ám sát Tổng thống Trump. Thông tin này được cho là đã ảnh hưởng đến các chuyến đi và các thỏa thuận an ninh máy bay của ông Trump. Ngày 11 tháng 7 – Thượng nghị sĩ Hoa Kỳ Lindsey Graham đột ngột qua đời tại tư dinh ở Washington ngay sau khi trở về từ Ukraine. Cái chết của ông đã tạo ra những suy đoán rộng rãi trên mạng rằng Nga, Iran hoặc Israel có thể đã ám sát ông.

Điều chúng ta chưa thấy là ảnh hưởng của dấu hiệu này lên Mặt Trăng bản mệnh của ông Putin. Hãy ghi nhớ rằng góc giao hội Thổ Tinh–Hải Vương Tinh có mối tương quan cao với sự sụp đổ của nhà nước Nga và nhà lãnh đạo của nó. Cũng lưu ý rằng Mặt Trời ở vị trí trên Thiên Đỉnh (MC) phía trên Iran cũng chạy qua Nga. Tôi sẽ để lại cho bạn những suy nghĩ của tôi về dấu hiệu này từ Forecast năm 2026: “Mặt Trăng trong biểu đồ của ông Putin tượng trưng cho người dân, quê hương, bản năng cảm xúc và tâm trạng công chúng. Với góc giao hội Hỏa Tinh–Thiên Vương Tinh trên Mặt Trăng bản mệnh của ông, chúng ta có thể thấy sự bất ổn hoặc biến động đột ngột giữa người dân Nga—có thể là các cuộc biểu tình, đình công hoặc sự thay đổi nhanh chóng trong tâm lý công chúng. Cũng có tiềm năng về một phản ứng thái quá theo cảm xúc hoặc bản năng của ông Putin, dẫn đến những quyết định bốc đồng. Mặt Trăng cũng chủ quản sự an toàn cá nhân và sức khỏe, vì vậy nó có thể báo hiệu sự bất ổn trong cuộc sống cá nhân hoặc sức khỏe của ông ấy.”

CHU KỲ CHỈ SỐ VN-INDEX





Tuần bắt đầu ngày 20.7.2026 là tuần thứ 12 kể từ đáy chu kỳ sơ cấp 23.3.2026. Chỉ số VN-Index trong tuần đã kiểm tra lại MA200 ngày và thủng đáy tháng 6, nằm dưới MA50 ngày, cho thấy đang ở trong thời điểm tìm kiếm đáy chu kỳ sơ cấp đầu tiên, trong chu kỳ 1 năm.

Sự phân kỳ liên thị trường xảy ra, trong khi VN-Index vẫn còn nằm cao hơn đáy tháng 3 thì chỉ số VNMIDCAP đã thủng đáy tháng 3, tạo ra sự phân kỳ dương tăng giá.

Chỉ báo RSI đã về 30, tạo ra khả năng hồi phục kỹ thuật cao. Tuy nhiên, để tạo ra đáy lớn thì cần phải chờ đáy 2. Đây sẽ là đáy chu kỳ 1 năm của VNMIDCAP. Các cổ phiếu vốn hóa vừa và nhỏ đã giảm gần 1  năm.

Trạng thái rũ margin đã xuất hiện trong phiên giao dịch ngày 16.7.2026.



Sao Thủy nghịch hành không tạo ra xu hướng tăng cho VN-Index trong lần này, thay vào đó nó gần như trùng với đỉnh 1/2 PT khi bắt đầu nghịch hành vào ngày 29.6.2026. Vào ngày 23.7.2026 tới, nó sẽ trở lại thuận hành.

Mặt Trời sau đó sẽ tiến vào cung Sư Tử vào ngày 22 tháng 7, thường VN-Index sẽ tạo đáy ở cung Sư Tử khi có xu hướng giảm ở đây. Tuy nhiên, hiện chu kỳ này không còn mạnh mẽ như trước.

Chúng ta sau đó sẽ kết thúc tuần với Thổ Tinh chuyển sang trạng thái nghịch hành vào ngày 26 tháng 7. Do đó, đây là một ngày đảo chiều trọng yếu (CRD) mạnh mẽ kết hợp vô số các dấu hiệu địa tâm đầy tiềm năng.

Theo kiểm định Timing Solution, Thổ Tinh nghịch hành thường tạo ra xu hướng giảm của VN-Index nhiều hơn trong 5 ngày trước sự kiện và 5 ngày sau sự kiện. 

Do đó, khả năng thị trường còn chịu sức ép giảm cho đến khung CRD cấp độ 3 sao 23.7.2026 +/-3 TD



Trong hai tuần qua, chúng ta đã chịu ảnh hưởng của góc giao hội Hỏa Tinh–Thiên Vương Tinh diễn ra vào ngày 4 tháng 7. Chỉ số VN-Index thường biến động lên xuống thất thường khi ở trong cặp góc này!







Thứ Bảy, 11 tháng 7, 2026

Hỗn Thủy Mạc Ngư- Thị trường lại đánh lừa nhà đầu tư trước khi có sóng tăng!

TIỀN ĐANG QUAY TRỞ LẠI HỆ THỐNG NGÂN HÀNG, CHỜ CHÍNH SÁCH NGẤM!

Tăng trưởng tiền gửi đã cho thấy dấu hiệu hồi phục từ cuối tháng 3/2026, đảo ngược xu hướng rút vốn trước đó khi khoảng 60-70 nghìn tỷ đồng đã quay trở lại hệ thống trong tháng 4.
 Dù vậy, chênh lệch tín dụng - tiền gửi vẫn duy trì ở mức cao kỷ lục 2.6 triệu tỷ đồng, gây áp lực lên thanh khoản hệ thống. 
Các biện pháp hỗ trợ từ tiền gửi Kho bạc Nhà nước hay tín dụng dự án trọng điểm chỉ mang tính chọn lọc, chưa đủ để giải quyết toàn diện áp lực huy động trong bối cảnh nhu cầu tín dụng nền kinh tế vẫn lớn và sự cạnh tranh gay gắt từ trái phiếu doanh nghiệp. 
Do đó, lãi suất dự kiến sẽ ổn định ở mức hiện tại; việc giảm nhẹ có thể diễn ra trong 1-2 quý tới nếu nguồn vốn hỗ trợ đủ lớn, nhưng để lãi suất giảm bền vững, hệ thống cần thêm động lực từ việc thu hẹp chênh lệch tín dụng - tiền gửi và cải thiện cán cân thanh toán để ổn định tỷ giá


 

Thứ Bảy, 4 tháng 7, 2026

Thống Đốc 4 lần chỉ đạo giảm lãi suất, nhưng vẫn khó giảm. Liệu lần này có khác?

Dạo Quanh Toàn Cầu

Báo cáo việc làm hàng tháng cho thấy thị trường lao động đã hạ nhiệt trong tháng 6. Nền kinh tế Hoa Kỳ đã tạo thêm 57,000 việc làm trong tháng 6, so với mức 113,000 dự kiến, trong khi tỷ lệ thất nghiệp giảm nhẹ xuống 4.2% trong tháng 6 từ mức 4.3% trong tháng 5. Số lượng tăng trưởng việc làm trong tháng 6 đã phá vỡ chuỗi ba tháng tăng trưởng trên 100,000 việc làm. Các số liệu này cũng giảm đáng kể so với mức 129,000 việc làm được điều chỉnh của tháng 5.

 —Emma Ockerman và Grace O’Donnell, “Báo cáo việc làm tháng 6: Thị trường lao động Hoa Kỳ chậm lại từ nước rút sang chạy bộ,” Yahoo Finance, ngày 2 tháng 7 năm 2026.

Chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang (FED) Warsh dường như rất muốn khuyến khích sự không chắc chắn hơn bằng cách đưa ra rất ít hướng dẫn chính sách hữu ích. Warsh đã đề nghị mở rộng phạm vi các nguồn dữ liệu mà FED sử dụng—vì dữ liệu chính thức kém tin cậy hơn. Đây là một điều tốt, nhưng nó đòi hỏi sự hiểu biết thông minh rằng các nguồn thay thế cũng thiếu độ chính xác. Warsh [cũng] nhắc lại niềm tin vào "yêu tinh năng suất" (productivity pixie), cho rằng trí tuệ nhân tạo có thể là một lực lượng giảm lạm phát tự động mạnh mẽ. Niềm tin này rất đáng lo ngại (vì nó không đúng). Bất kỳ công nghệ mới nào cũng là một cú sốc tương đối, làm giảm giá của một số mặt hàng và tăng giá của các mặt hàng khác (xem giá Apple iPad để biết chi tiết).

 — Tiến sĩ Paul Donovan, “Các vấn đề về chính sách và dữ liệu,” Morning Audio Comments, UBS, www.ubs.com/cio, ngày 2 tháng 7 năm 2026.



Thứ Bảy, 27 tháng 6, 2026

Giá dầu trở lại về mức bình thường trước chiến tranh, TTCK cũng sắp trở lại bình thường?


SBV đang phát thông điệp nới lỏng tín dụng, trong khi chính phủ đẩy mạnh chính sách tài khóa

Chính phủ vừa thông qua Nghị quyết 26/2026/QH16 với kế hoạch huy động 6.4 triệu tỷ đồng trong 5 năm tới, nâng bội chi ngân sách lên 5% GDP để tạo không gian tài khóa, trong khi vẫn duy trì trần nợ công ở mức 60% GDP (hiện tại thực tế chỉ khoảng 35-36% GDP). Điểm mấu chốt là luật đã "khóa chặt" mục đích sử dụng, quy định khoản vay bù đắp bội chi chỉ được dùng cho đầu tư phát triển (chiếm 40% tổng chi ngân sách), không dùng cho chi tiêu thường xuyên hay trả lương. Khoản vay này hướng đến các dự án hạ tầng chiến lược như cao tốc, metro, sân bay và hạ tầng năng lượng, nhằm tạo ra tài sản cho nền kinh tế thay vì tiêu xài lãng phí. Đối với bất động sản, chính sách này là tín hiệu tích cực, bởi hạ tầng sẽ đi trước mở đường, đặc biệt tại các khu vực hưởng lợi trực tiếp từ các dự án hạ tầng trọng điểm được ưu tiên giải ngân ODA và vốn ưu đãi. Nhìn chung, chính sách này là bước đi cần thiết nếu được thực thi minh bạch và đúng tiến độ.


Thứ Sáu, 26 tháng 6, 2026

Miễn room tín dụng cho 18 dự án trọng điểm của các Chaebol Việt Nam sẽ đóng góp thêm 0.5-1% tăng trưởng tín dụng mỗi năm



Ngày 22/6/2026, Ngân hàng Nhà nước ban hành Công văn 5386/NHNN-TD, cho phép các ngân hàng thương mại loại trừ dư nợ của 18 dự án hạ tầng trọng điểm (hàng không, đường sắt tốc độ cao, APEC) của Vingroup, Sun Group và Masterise khỏi hạn mức tăng trưởng tín dụng. 

Tổng vốn huy động của các dự án này khoảng 752,100 tỷ đồng giai đoạn 2026-2033, với 85% giải ngân trong 3 năm đầu, ước tính đóng góp thêm khoảng 0.5-1%/năm vào tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống trong giai đoạn 2026-2028.

Đồng quan điểm, VNDirect cũng ước tính dự kiến đóng góp thêm khoảng 1% vào tổng dư nợ toàn hệ thống trong năm 2026


Thứ Tư, 24 tháng 6, 2026

Ngân hàng Nhà nước phát tín hiệu linh hoạt trong chính sách tín dụng

Trong hai tháng gần đây, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã liên tiếp ban hành nhiều chính sách quan trọng nhằm tháo gỡ nút thắt về vốn cho nền kinh tế mà không thay đổi định hướng kiểm soát rủi ro hệ thống.

Các động thái này bao gồm việc điều chỉnh cách tính tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tiền gửi (LDR), nâng trần vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn lên 40%, cùng các cơ chế đặc thù về "room" tín dụng cho những lĩnh vực và dự án trọng điểm.

Thay đổi này đánh dấu bước chuyển dịch quan trọng, từ việc siết chặt theo lộ trình sang cách tiếp cận linh hoạt, nhằm hỗ trợ dòng vốn cho các chu kỳ đầu tư kéo dài trong bối cảnh nền kinh tế cần vốn để đạt mục tiêu tăng trưởng cao.


Thứ Sáu, 19 tháng 6, 2026

Đề xuất nới trần tỷ lệ SMLR từ 30% lên 40%: Động thái hỗ trợ tăng trưởng tín dụng

  • 📊 Chính sách tín dụng: Ngân hàng Nhà nước đề xuất nâng trần tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn từ 30% lên 40%, nhằm hỗ trợ tăng trưởng tín dụng cho các lĩnh vực cần vốn dài hạn như bất động sản và hạ tầng.

  • ⚖️ Tác động hệ thống: Động thái này giúp các ngân hàng có thêm dư địa cho vay, giảm áp lực huy động vốn dài hạn, mặc dù nhưng cũng tiềm ẩn rủi ro mất cân đối kỳ hạn giữa nguồn vốn và cho vay.

  • 🚀 Triển vọng thị trường: Nếu được thông qua, chính sách sẽ tạo điều kiện thúc đẩy tín dụng, hỗ trợ doanh nghiệp trong bối cảnh nhu cầu vốn trung dài hạn tăng cao, đồng thời góp phần kích thích đầu tư và tiêu dùng.




 Đề xuất nới trần tỷ lệ SMLR: Động thái hỗ trợ tăng trưởng tín dụng

Vào ngày 17/6/2026, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã công bố dự thảo sửa đổi Thông tư 22/2019/TT-NHNN, trong đó đề xuất nâng tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung và dài hạn (SMLR) từ mức 30% hiện tại lên 40%

Đây là một thay đổi đáng chú ý sau lộ trình siết chặt tỷ lệ này từ mức 40% xuống 30% kể từ năm 2020 nhằm kiểm soát rủi ro kỳ hạn trong hệ thống

Động thái nới lỏng này cho thấy ưu tiên chính sách của NHNN đang dịch chuyển sang việc hỗ trợ tăng trưởng tín dụng, nhằm đáp ứng nhu cầu vốn trung và dài hạn cho nền kinh tế trong bối cảnh các mục tiêu tăng trưởng kinh tế đang ở mức cao, đồng thời giải tỏa áp lực huy động vốn dài hạn của các ngân hàng.